Hiển thị các bài đăng có nhãn kiến thức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kiến thức. Hiển thị tất cả bài đăng

Lý thuyết định giá tiền tệ

Xác định giá trị tiền tệ theo truyền thống dựa trên lý thuyết kinh tế theo sau phổ biến. Một số các lý thuyết này gồm Cung và Cầu
Cung và Cầu
Là lý thuyết kinh tế cơ bản nhất, nó có nghĩa là khi kích thước số lượng người mua lớn hơn số lượng ngườn bán, thị trường sẽ tăng. Ngược lại thị trường sẽ giảm khi người bán chiếm ưu thế hơn so với người mua.
Trong khi lý thuyết này có vẻ quá đơn giản, nó lại là lý thuyết nền tảng cho tất cả các thị trường, gồm cả tài chính và những cái khác.

Sức mua tương đương (Purchasing Power Parity, PPP)
Lý thuyết sức mua tương đương chỉ ra rằng các mức giá đối với hàng hoá và dịch vụ nên được tương đương giữa hai nước sau khi điều chỉnh tỷ giá.

Dựa trên giả thuyết rằng với cùng một món hàng thì giá của chúng là như nhau ở các quốc gia khác nhau - còn gọi là Luật của Một Giá - lý thuyết này ngụ ý rằng một trong các loại tiền tệ sẽ được định giá cao hơn hoặc thấp hơn hoặc tùy thuộc vào sự chênh lệch về giá của cùng một món hàng trong các nước.

Về lý thuyết, điều này cuối cùng sẽ được điều chỉnh cho chính xác bởi những người mua các sản phẩm trong nước chi phí thấp hơn để bán trong nước có chi phí cao hơn.

Lãi suất tương đương
Lãi suất tương đương cho rằng tài sản tài chính tương đương, cùng với các yếu tố nguy cơ tương tự ở các quốc gia khác nhau nên có cùng mức lãi suất sau khi điều chỉnh tỷ giá. Mặc dù việc xác định giá trị tài sản tương đương với nguy cơ tài chính có thể phức tạp, lý thuyết này được sử dụng với giá trong hợp đồng tương lai, kỳ hạn, quyền chọn và hoán đổi trong thị trường ngoại hối.

Cán cân thanh toán
Lý thuyết kinh tế này mặc nhiên công nhận rằng nếu tài khoản lớn hiện nay của một quốc gia đang bị thâm hụt hoặc thặng dư, thì tiền tệ của nước này hoặc bị đánh giá quá cao hoặc bị đánh giá quá thấp và vì vậy phải được điều chỉnh cho phù hợp.

Lý thuyết này không tính đến một số các yếu tố đứng đằng sau các đồng đôla Mỹ đã làm tăng thâm hụt lên mức cao nhất ở bất kỳ nước nào và còn tiếp tục diễn ra mạnh mẽ.

Mặt khác, Trung Quốc - nước có thặng dư tài khoản hiện tại lớn nhất thế giới - đã duy trì đồng tiền của mình thấp một cách giả tạo trong quá khứ bằng cách cố định nó với đồng đôla Mỹ.

Giải thích các loại biểu đồ


Khi giải thích các biểu đồ giá, các nhà phân tích kỹ thuật thường sử dụng nhiều loại kỹ thuật. Có thể bao gồm các bản vẽ các đường hay các kênh xu hướng để xác định xu hướng, nhận ra các mẫu biểu đồ cổ điển và phân loại quan sát hoạt động giá theo kiểu thị trường.

Nhận dạng xu hướng
Các xu hướng gồm một loạt các mức giá cao (highs) và mức giá thấp (lows). Giá cao cao hơn cho xu hướng tăng hay một loạt các mức giá giá thấp thấp hơn cho xu hướng giảm. Các nhà phân tích kỹ thuật sẽ xem qua những điểm đảo ngược được nhìn thấy trên biểu đồ để lưu ý xem liệu có thế tồn tại một mô hình.

Nếu họ quan sát một xu hướng, thì khi đó họ sẽ kẻ một đường phía trên, giữa các mức giá cao và một đường thấp hơn giữa các mức giá thấp. Khi những đường kẻ này song song với nhau, chúng tạo thành một kênh, dùng để chỉ ra chuyển động mạnh có hướng đang diễn ra tại thị trường này.

Mẫu biểu đồ
Ngoài việc tìm kiếm xu hướng trên các biểu đồ, nhà đầu tư cũng sử dụng biểu đồ để xác định các mẫu biểu đồ đáng tin cậy gồm có các biểu đồ hình tam giác, cờ (flags), cờ hiệu (pennants), đầu (head) và vai (shoulders), đỉnh (tops) và đáy (bottoms)…Những mẫu biểu đồ cổ điển thường cung cấp các thông tin hữu ích dự báo về các mức tỷ giá trong tương lai. Các mô hình như vậy thường được gọi là "đo lường sự chuyển động" (measured moves) cho phép các nhà đầu tư theo phân tích kỹ thuật thiết lập mục tiêu giá cả và các mức dừng khi nhận thấy "có xu thế đảo chiều" (breakout).

Phân biệt các kiểu thị trường
Các thị trường thường rơi vào hai loại chính: xu hướng và không có xu hướng và chúng cũng thể hiện các loại mô hình kinh doanh khác nhau. Chúng bao gồm: các thị trường có xu hướng lên và thị trường có xu hướng xuống, cũng như thị trường có tính dao động bấp bênh (choppy), không có xu hướng (sideways) và thị trường có tính thống nhất (consolidative).
Xác định các loại thị trường này rất hữu ích vì khi làm như vậy có thể cung cấp các cơ hội tạo ra lợi nhuận tốt. Ví dụ, các thị trường có xu hướng thường tạo ra lợi nhuận cho nhà đầu tư theo chúng, trong khi thị trường không có xu hướng thường cho phép các nhà đầu tư kiếm tiền bằng cách mua thấp và bán cao với các những điểm dừng được đặt ở bên ngoài điểm cực (extreme points).